Nghiên cứu “Kết quả phẫu thuật nạo u xương lành tính, ghép xương đồng loại tại khoa Ngoại Cơ Xương Khớp bệnh viện K” được tiến hành trên 66 bệnh nhân u xương lành tính, được phẫu thuật nạo u, ghép xương đồng loại tại Khoa Ngoại Cơ Xương Khớp Bệnh viện K từ tháng 5/2022 đến tháng 05/2024
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, giải phẫu bệnh của các bệnh nhân u xương lành tính, được phẫu thuật nạo u, ghép xương đồng loại tại Khoa Ngoại Cơ Xương Khớp Bệnh viện K. Đánh giá kết quả phẫu thuật nạo u ghép xương đồng loại ở nhóm bệnh nhân này.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu: lựa chọn bệnh nhân theo tiêu chuẩn lựa chọn, lấy hồ sơ bệnh án, thu thập thông tin theo bệnh án nghiên cứu, đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật.
Kết quả: Nghiên cứu trên 66 bệnh nhân thấy nhóm tuổi từ 20-50 tuổi chiếm đa số với 51,5%, tỉ lệ nữ nhiều hơn nam chiếm 56,1%. Các vị trí u thường gặp là xương cánh tay, xương đùi, xương chày. Tỉ lệ nhiễm trùng sau mổ là 1,5%; tỉ lệ tái phát sau mổ là 1,5% gặp ở 01 bệnh nhân u tế bào khổng lồ. Tất cả các bệnh nhân đều có biểu hiện liền xương tại thời điểm tái khám. Chức năng chi trung bình sau mổ đánh giá theo thang điểm Musculoskeletal tumor society score là 26,89 ± 1,42.
Kết luận: Phẫu thuật nạo u, ghép xương đồng loại là phương pháp điều trị hiệu quả các u xương lành tính với tỉ lệ tái phát thấp và bảo tồn tốt chức năng chi thể.
Abstract
We evaluated the efficiency of curettage and bone allografting in treatment of benign bone tumours in a consecutive series of 66 patients.
Objectives: Evaluate the result of curettage and bone allografting in treatment of benign bone tumours.
Methods: Design an retrospective study on 66 patients with confirmed diagnosis of benign bone tumours on histopathology, were treated with intralesion curettage and bone allografting. We evaluate the bone healing rate and functional result by MSTS score.
Results: In 66 patients, 51,5% are between 20-50 years old, the female patients is dominated with 56,1%. The most common tumor locations are: humerus, femur and tibia. There is one patient with a giant cell tumour of metacarpal bone has local recurrent(1,5%). Superficial infection rate is 1,5% with no deep infection. All patients have sign of bone healing on X ray exam at time of research. The medium MSTS score is 26,89 ± 1,42.
Conclusions: Intralesion curettage and bone allografting is a good oftion for treatment of benign bone tumours.
ghép xương đồng loại, u xương lành tính.
Keywords
bone allograft, benign bone tumour.
[1]. Silber JS, Anderson DG, Daffner SD, et al. Donor site morbidity after anterior iliac crest bone harvest for single-level anterior cervical discectomy and fusion. Spine. 2003;28(2):134-139.
[2]. Roudbari S, Sami S, Roudbari M. The Clinical Results of Benign Bone Tumor Treatment with Allograft or Autograft. Arch Iran Med. 2015;18:109-113.
[3]. Kwong FNK, Ibrahim T, Power RA. Incidence of infection with the use of non-irradiated morcellised allograft bone washed at the time of revision arthro- plasty of the hip. J Bone Joint Surg Br. 2005;87-B(11):1524-1526.
[4]. Dương Đình Toàn, Nguyễn Trọng Tài, Đoàn Lê Vinh (2022). 20. Kết quả phẫu thuật nạo u và ghép xương điều trị u tế bào khổng lồ xương. Tạp Chí Nghiên cứu Y học, 153(5), 165-170.
[5]. Hoàng Lê Minh, Hoàng Tuấn Anh, Ứng Trần Trí (2023). Kết quả phẫu thuật điều trị u tế bào khổng lồ tại khoa Ngoại cơ xương khớp bệnh viện K. Tạp chí nghiên cứu y học, 531, 345-351.
[6]. Phương NT, Anh ND, Văn PT. Tình trạng dung nạp mảnh ghép và kết quả liền xương sau phẫu thuật vá sàn hốc mắt bằng xương đồng loại đông khô. Tạp Chí Nghiên Cứu Học. 2021;139(3):145-152.
[7]. Li J, Wang Z qiang, Zhang Y min, Song H ping, Yuan L. [Application of alloge- neic bone in surgical treatment of benign
bone neoplasm]. Nan Fang Yi Ke Da Xue Xue Bao. 2006;26(7):987-990.